Về truyện trinh thám [2/2]

Borges, Jorge Luis

Conan Doyle xây dựng nên một nhân vật hơi khờ khạo, có trí tuệ hơi kém hơn trí tuệ của người đọc, tên là Bác sĩ Watson. Nhân vật thứ hai tính tình khá khôi hài nhưng cũng rất khả kính: Sherlock Holmes. Conan Doyle bố trí để sao cho những kỳ tích về trí tuệ của Sherlock Holmes đều có thể được chứng kiến và thuật lại nhờ người bạn, bác sĩ Watson, kẻ không ngừng kinh ngạc và bị dẫn dắt bởi những tình tiết bên ngoài, kẻ luôn luôn bị Sherlock Holmes thống trị bởi vì muốn được Sherlock Holmes thống trị. Tất cả những chi tiết này đều đã hiện diện trong truyện trinh thám đầu tiên của Edgar Poe mặc dù Edgar Poe không biết rằng mình đã sáng tạo ra một thể loại văn học mới. Truyện trinh thám đầu tiên ấy có tên là Vụ ám sát hai mẹ con tại phố Morgue. Edgar Poe không muốn truyện trinh thám lại là một thể loại hiện thực, ông muốn nó phải là một thể loại văn học lý trí, một thể loại kỳ ảo, ta có thể nói như thế, nhưng đó là thể loại kỳ ảo có nguồn gốc từ trí tuệ chứ không phải chỉ từ tưởng tượng. Truyện trinh thám có nguồn gốc từ cả hai thứ đó, dĩ nhiên, nhưng trước hết phải là từ trí tuệ. Edgar Poe có thể chọn nơi xảy ra tội ác và địa bàn hoạt động của nhà thám tử ở New York, nhưng khi đó người đọc có thể tự hỏi liệu mọi chuyện có thể diễn ra như thế thật không, liệu cảnh sát Mỹ có hành động như thế hay không. Chắc chắn sẽ dễ dàng hơn cho Edgar Poe và cho trí tưởng tượng của ông nếu chọn khung cảnh Paris, tại một khu phố ít người qua lại gần Saint-Germain-des-Prés. Đó là lý do vì sao nhà thám tử đầu tiên của truyện trinh thám lại là người ngoại quốc – nhà thám tử đầu tiên của văn học là người Pháp. Tại sao lại là người Pháp? Bởi vì tác giả là người Mỹ, nên ông cần có một nhân vật bên ngoài nước Mỹ. Để làm cho các nhân vật của mình thêm bí hiểm, ông để cho họ sống theo một cách khác hẳn cách sống của những con người bình thường. Vào lúc rạng đông họ khép chặt các cửa sổ con, thắp nến, còn khi đêm đến họ cùng nhau đi dạo trên những đường phố vắng ngắt của Paris, với ấn tượng về đám đông lẫn về sự cô độc cùng một lúc, để tìm kiếm những hưng phấn về tinh thần, mà, như Edgar Poe đã nói, chỉ có những thành phố lớn đang mơ màng ngủ mới có thể tạo ra. Tôi hình dung cảnh hai người bạn đang sục sạo khắp những đường phố Paris vắng vẻ, trong đêm, đang bàn luận – về điều gì? Về triết học, về những chủ đề của trí tuệ. Thế rồi tội ác xảy ra, tội ác đầu tiên của văn học trinh thám: vụ ám sát hai người phụ nữ. Tôi dịch từ the murder là tội ác, tội ác tại phố Morgue, “tội ác” mạnh hơn là “vụ ám sát”. Cốt chuyện như sau: hai người đàn bà bị ám sát trong một căn phòng có vẻ như không ai đột nhập vào được. Ở đây Edgar Poe đã sáng tạo ra đề tài về sự bí ẩn của căn phòng khóa chặt. Một trong hai người phụ nữ bị bóp cổ, người kia bị cắt cổ bằng dao cạo. Có rất nhiều tiền, bốn mươi ngàn francs vung vãi trên sàn, mọi thứ đều vung vãi trên sàn, mọi thứ đều khiến người ta nghĩ tới bệnh điên. Nghĩa là, chúng ta có một sự mở đầu dữ dội, thậm chí khủng khiếp, sau đó, ở cuối chuyện, tất cả được giải quyết ổn thỏa.Nhưng sự giải quyết đối với chúng ta không phải chỉ có một, bởi vì chúng ta đã biết chủ đề trước khi đọc truyện của Edgar Poe. Điều này, dĩ nhiên, tước đi rất nhiều sức mạnh của nó. Đó là điều xảy ra với Trường hợp kỳ lạ của bác sĩ Jekyll và ông Hyde: chúng ta biết rằng hai nhân vật là một và chỉ một người, nhưng bấy giờ chỉ có những độc giả của Stevenson – một học trò khác của Edgar Poe – mới biết điều đó. Trong truyện của Edgar Poe, ai có thể ngờ rằng kẻ sát nhân lại là một con khỉ hay đười ươi? Bí ẩn được khám phá nhờ một thủ thuật: sử dụng những điều do số người vào căn phòng trước đó chứng kiến và kể lại. Tất cả các nhân chứng đều nghe thấy một giọng khàn khàn, giọng Pháp, theo khẳng định của một người trong số họ. Người này thậm chí còn nhận biết được vài từ. Những người khác thì nói rằng đó là một giọng rất lạ, không có âm tiết. Nhân chứng người Tây Ban Nha cho rằng đó là giọng Đức, nhân chứng người Đức cho rằng đó là giọng Hà Lan, người Hà Lan lại cho là giọng Italy… Cuối cùng đó là giọng một con khỉ. Rồi người ta khám phá ra hung thủ. Người ta khám phá ra hung thủ, nhưng chúng ta thì đã biết trước lời giải. Đó là điều có thể dẫn chúng ta tới việc phê phán Edgar Poe, cho rằng cốt truyện của ông quá mỏng, đến mức nó gần như trong suốt. Điều đó đúng với chúng ta nhưng không đúng với những độc giả đầu tiên của văn học trinh thám, những người chưa có được những kinh nghiệm của chúng ta về thể loại này, những người chưa được Edgar Poe đào tạo như chúng ta đã được ông đào tạo. Chúng ta, khi đọc truyện trinh thám, chúng ta là những sản phẩm sáng tạo của Edgar Poe. Họ, những độc giả đầu tiên của truyện này, đã đọc nó và vô cùng thích thú, trước khi tất cả những truyện trinh thám khác dần dần theo nhau xuất hiện. Edgar Poe để lại cho chúng ta năm hình mẫu của thể loại trinh thám, một trong số đó có tên là Con quỷ đồi bại: đó là truyện yếu hơn cả, nhưng sau đó đã được Israel Zangwill[16] mô phỏng lại trong Vụ ám sát cây cung lớn, và truyện này cũng vay mượn ý tưởng về một tội ác được thực hiện trong căn phòng đóng kín. Nhân vật trong đó, tên hung thủ, về sau chúng ta gặp lại trong Bí mật căn phòng màu vàng của Gaston Leroux[17]: hóa ra chính nhà thám tử lại là kẻ giết người. Hai hình mẫu tiếp theo là hai kiệt tác: Lá thư bị mất cắpCon cánh cam vàng. Trong Lá thư bị mất cắp, cốt truyện hết sức đơn giản. Lá thư bị một vị bộ trưởng đánh cắp, và cảnh sát biết rằng ông ta đang giữ nó. Người ta hai lần bất ngờ tấn công ông ta trên đường phố, sau đó khám nhà. Để không bỏ sót bất cứ thứ gì, họ lục soát tỉ mỉ từng phòng một. Cảnh sát được trang bị cả kính lúp và kính hiển vi. Người ta giở từng quyển sách trong thư viện, xem xét từng cặp giấy, nghiên cứu từng vết bụi trên đồ đạc. Sau đó Dupin xuất hiện. Ông ta nói rằng cảnh sát đã nhầm đường, rằng họ đã suy luận hệt như một đứa trẻ, tưởng rằng hễ đã giấu một món gì thì nhất định phải giấu trong một chỗ kín. Nhưng thực tế không phải vậy. Dupin đến thăm vị chính khách – ông này vốn là bạn ông – và trông thấy, trước mắt mọi người, chiếc phong bì đã xé. Ông hiểu rằng đó chính là lá thư mà người ta đang tìm kiếm. Ý tưởng đơn giản là: giấu một vật ở nơi ai cũng có thể trông thấy, đó mới là nơi bất ngờ nhất. Ngoài ra, Edgar Poe, để cho chúng ta cảm thấy rõ quan niệm của ông về truyện trinh thám như là một thể loại văn học duy lý, luôn mở đầu bằng những đoạn đàm luận về sự phân tích, về cờ vua, về tính ưu việt của bài Whist hoặc về những con đầm. Trong năm hình mẫu còn có Bí mật của Marie Roget, truyện lạ nhất trong các truyện của ông nhưng nếu đọc thì lại ít thú vị nhất. Truyện kể về một tội ác có thật, xảy ra ở New York: Mary Roger, một cô gái trẻ, bị ám sát. Hình như cô ta làm nghề bán hoa. Edgar Poe đọc được mẩu tin này trên báo. Ông giả định rằng tội ác xảy ra tại Paris, gọi cô gái là Marie Roger và suy đoán cách thức hung thủ gây án. Trên thực tế, nhiều năm sau người ta mới tìm ra tên sát nhân, và tất cả đúng như Poe mô tả. Như vậy, chúng ta đã có truyện trinh thám với tư cách là một thể loại duy lý. Tội ác được khám phá nhờ các suy luận theo lô gích trừu tượng chứ không phải nhờ những lời tố giác hoặc sự vụng về của hung thủ. Edgar Poe biết rõ rằng những gì ông làm không phải là hiện thực, chính vì thế ông chọn Paris làm bối cảnh. Chính vì thế mà nhà thám tử suy luận theo lôgích ấy là một người quý phái, chứ không phải là cảnh sát. Và chính vì thế, ông đặt cảnh sát vào những tình huống khiến họ trở nên lố bịch. Nói cách khác, Poe đã sáng tạo ra nhân vật anh tài trí tuệ. Điều gì xảy ra sau khi Edgar Poe chết? Ông mất, nếu tôi nhớ không nhầm, vào năm 1849. Walt Whitman, người đồng thời vĩ đại của Poe, viết trong một bài báo về người đã khuất rằng Poe là một nhạc công chỉ biết chơi những nốt chính của đàn piano, rằng ông không đại diện cho nền dân chủ Mỹ – điều mà chưa có ai, chưa bao giờ, đề nghị Poe làm. Walt Whitman đã bất công với ông, cũng như Emerson vậy. Một số nhà phê bình văn học ngày nay không đánh giá hết tầm vóc của Edgar Poe. Nhưng tôi tin rằng tác phẩm của ông, nhìn toàn thể, là tác phẩm của một thiên tài, cho dù truyện của ông, nói riêng là Những cuộc phiêu lưu của Arthur Gordon Pym, có những khiếm khuyết đi chăng nữa. Những truyện này, gộp lại, đã xây dựng nên một nhân vật bên trên tất cả những nhân vật mà Poe đã xây dựng, bên trên Charles Aguste Dupin, bên trên những tội ác, bên trên tất cả những bí ẩn mà ngày nay chẳng còn làm chúng ta sợ hãi. Ở Anh, nơi thể loại trinh thám được nhìn nhận dưới góc độ tâm lý, chúng ta gặp những truyện trinh thám hay nhất: những tác phẩm của Wilkie Collins[18], Người đàn bà áo trắng Đá mặt trăng. Và chúng ta có Chesterton, người kế tục vĩ đại nhất của Poe. Chesterton nói rằng chưa có ai viết truyện trinh thám hay hơn Edgar Poe, nhưng tôi có cảm giác rằng chính ông, Chesterton, đã vượt Poe. Poe đã viết những truyện thuần túy kỳ ảo, Mặt nạ tử thần đỏ hay Thùng rượu amontillado chẳng hạn, sau đó ông viết những truyện dựa trên suy luận lôgích, như năm truyện trinh thám mà ta vừa phân tích ở trên. Chesterton thì khác, ông viết những truyện kỳ ảo với kết thúc giống như những truyện trinh thám. Tôi lấy một ví dụ: Người vô hình, xuất bản năm 1905 hay 1908 gì đó. Câu chuyện tóm tắt như sau: Người đàn ông chuyên chế tạo rô bốt – người làm bếp, người gác cổng, những bà dọn phòng, những công nhân cơ khí…- sống trong một căn hộ của khu nhà trên ngọn đồi phủ đầy tuyết, tại London. Ông ta bị đe dọa ám sát. Đó là một người đàn ông bé nhỏ, điều này rất quan trọng đối với toàn bộ câu chuyện sau đó. Ông ta sống độc thân với những người máy phục vụ của mình, những thứ mà tự nó đã có gì đó hết sức đáng sợ. Một người sống cô độc, giữa những máy móc mô phỏng con người một cách vụng về. Ông ta nhận được một lá thư trong đó nói rằng ông ta sẽ chết vào buổi chiều. Ông gọi các bạn bè và họ vội đi báo cho cảnh sát. Nhưng trước khi để ông ta lại một mình với lũ người máy, họ dặn người gác cổng phải quan sát xem có ai vào nhà không. Họ cũng giao cho một cảnh sát và một người bán hạt dẻ chăm sóc ông ta. Cả ba cùng hứa sẽ chú ý theo dõi. Khi bạn bè trở lại, họ trông thấy những dấu chân trên tuyết. Những bước chân hướng vào nhà có vẻ nhẹ nhàng, những vết đi ra sâu hơn, như thể người ta vác theo một vật nặng. Họ xông vào nhà và thấy nhà chế tạo người máy đã biến mất. Rồi họ phát hiện ra lớp tro trong ống khói. Chính ở đây xuất hiện chi tiết hay nhất của truyện: mối nghi hoặc rằng ông ta đã bị chính những người máy của mình giết chết. Đó là điều gây ấn tượng mạnh nhất đối với chúng ta. Điều đó gây ấn tượng mạnh hơn cả việc khám phá sự thật. Hung thủ đã vào nhà, cả người gác cổng, viên cảnh sát và người bán hạt dẻ đều trông thấy hắn, nhưng họ đã không nhận ra bởi vì đó chính là người đưa thư chiều nào cũng đến rất đúng giờ. Hắn đã giết nạn nhân, nhét xác vào túi thư, đốt rồi đi ra. Cha Brown trông thấy hắn, chuyện trò với hắn, nghe những lời thú tội và tha thứ. Trong truyện của Chesterton không hề có sự bắt bớ hay bạo lực. Thể loại văn học trinh thám ngày nay đã bị suy đồi ở Mỹ. Nó trở thành một thể loại hiện thực, đầy rẫy bạo lực và tình dục. Nguồn gốc trí tuệ của nó đã bị lãng quên, đã hoàn toàn biến mất. Thế nhưng nó vẫn được bảo tồn ở Anh, nơi người ta tiếp tục viết những tác phẩm điềm tĩnh, mô tả những câu chuyện xảy ra trong những làng nhỏ nước Anh. Tất cả thấm đẫm một bầu không khí của trí tuệ, bình yên, không có những cảnh bạo lực đầm đìa máu me. Bản thân tôi cũng đã thử viết truyện trinh thám, nhưng không dám tự hào về kết quả. Tôi đã đặt nó vào thế giới các biểu tượng có lẽ không thích hợp với nó lắm. Tôi đã viết truyện Cái chết và chiếc địa bàn. Một vài truyện khác cùng với Bioy Casares, người viết truyện ngắn hay hơn tôi rất nhiều. Chúng tôi đã cùng nhau viết Sáu vấn đề đối với don Isidro Parodi, một tù nhân ngồi trong tù giải quyết vấn đề của cảnh sát. Chúng ta có thể nói gì để bênh vực truyện trinh thám? Có một điều chắc chắn và hết sức hiển nhiên: nền văn học của chúng ta đang hướng về sự hỗn loạn. Người ta lao vào thơ tự do một phần bởi vì làm thơ tự do dễ hơn, dễ hơn rất nhiều so với làm thơ có vần và niêm luật chặt chẽ. Người ta có xu hướng tước bỏ nhân vật, cốt truyện, tất cả trở nên mông lung hơn.Trong thời đại cực kỳ hỗn loạn như thời đại của chúng ta, có một thứ vẫn còn lưu giữ – một cách khiêm tốn – những giá trị truyền thống: đó là truyện trinh thám. Thật vậy, ta không thể hình dung ra một truyện trinh thám không có phần mở đầu, thắt nút và cởi nút. Vâng, những tác phẩm này đúng là được viết bởi những nhà văn hạng hai, tất nhiên là phải trừ những truyện trinh thám của các đại văn hào như Dickens, Stevenson, và nhất là Wilkie Collins. Tôi nói thế để bảo vệ văn học trinh thám, dù nó chẳng cần ai bảo vệ. Ngày nay, dù chỉ được đọc với đôi chút khinh thị, truyện trinh thám đang tham gia gìn giữ cái trật tự trong một thế giới vô trật tự. Đó chính là một chiến công không phải là vô giá trị mà chúng ta cần phải biết ơn. 
Ngô Tự Lập
dịch từ tiếng Pháp

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: